13 5/2015
Xây dựng vùng trồng dong riềng gắn với chế biến

Diện tích trồng dong riềng toàn tỉnh hiện nay mới đạt gần 600ha/850ha kế hoạch

 

Vùng nguyên liệu tập trung

Hậu quả của việc trồng dong riềng tự phát không theo kế hoạch diễn ra vào những năm 2013 - 2014 khi diện tích lên tới 3.000ha khiến người dân trồng dong trong tỉnh lao đao. Giá dong củ xuống thấp tới mức 1kg dong riềng bán với giá 500 đồng, thậm chí không có người mua. Bài học đắt giá đó đã khiến người nông dân phải xác định lại việc đầu tư trồng như thế nào cho hiệu quả. Tâm lý e ngại trồng dong riềng diễn ra trong một thời gian tương đối dài, mặc dù diện tích kế hoạch đặt ra chỉ bằng 1/3 so với diện tích trồng các năm trước đây nhưng hầu như các địa phương không thực hiện đạt. Đơn cử như năm 2016 tỉnh có kế hoạch trồng 1.000ha nhưng thực hiện mới được gần 600ha. Năm nay diện tích kế hoạch giảm xuống còn 850ha, hiện tỉnh mới trồng được 586ha (89% kế hoạch). Vùng trồng tập trung chủ yếu ở Na Rì, Ba Bể, trong đó Na Rì trồng được trên 440ha, Ba Bể 100ha, diện tích còn lại ở Bạch Thông. Hiện nay bà con cơ bản kết thúc vụ trồng dong riềng tập trung chăm sóc.

Xác định thế mạnh là cây dong riềng, huyện Na Rì đã tích cực vào cuộc hỗ trợ người dân xây dựng mô hình trồng dong riềng đánh luống trên ruộng. Mô hình nhằm nâng cao năng suất củ dong, đem lại hiệu quả kinh tế cao, khuyến khích người dân tham gia. Năm 2016 mô hình đã thực hiện thành công ở xã Hảo Nghĩa, năm nay nhân rộng ở 10 xã của huyện, mỗi xã thực hiện 10ha, tổng diện tích trồng đã lên tới 100ha. Riêng xã Côn Minh năm nay toàn xã đã vận động bà con trồng được 100ha dong riềng.

Vùng trồng dong riềng đã dần hình thành ở những nơi có điều kiện sản xuất , tập trung các cơ sở chế biến như Ba Bể, Na Rì. Đây cũng chính là những vùng chính mà tỉnh quy hoạch để phát triển cây dong riềng. Tuy nhiên theo quy hoạch, diện tích trồng dong riềng đến năm 2020 là 1.500ha. Đây là cả một vấn đề bởi người dân phải có thu nhập ổn định từ cây trồng này thì mới có thể duy trì đồng thời mở rộng diện tích.

Cần có sự liên kết trong sản xuất, tiêu thụ dong riềng

Việc liên kết giữa người trồng dong riềng và các cơ sở chế biến tinh bột, miến dong là hết sức quan trọng và cần thiết, tuy nhiên đã nhiều năm vấn đề này chưa có sự chuyển biến. Người dân tỏ ra thờ ơ không mấy quan tâm, trong khi các cơ sở chế biến lại rất muốn. Nguyên nhân là do trước đây khi phong trào trồng dong riềng ồ ạt, người dân dù có ký kết nhưng các cơ sở cũng không thể tiêu thụ hết cho dân, giá cả phụ thuộc vào thị trường chứ không theo hợp đồng. Nay các cơ sở đã đi vào sản xuất ổn định, đầu tư máy móc, nhà xưởng nên mong muốn có nguyên liệu đầu vào ổn định liên kết với người dân nhưng rất khó. 

Năm 2016, các cơ sở đã chạy đôn chạy đáo vì thiếu nguyên liệu sản xuất do củ dong được giá, tư thương bên ngoài tranh mua. Cơ sở miến dong Chính Tuyển Na Rì ký kết với người dân thu mua giá thấp nhất là 1.500 đồng/kg; khi vào mùa thu hoạch nếu giá thị trường lên thì cơ sở cũng nâng giá mua tương đương. Nhưng trên thực tế vụ năm 2016, người dân gặp tư thương trả giá cao là bán. Còn với cơ sở sản xuất miến dong Nhất Thiện, chủ cơ sở rất lo thiếu nguyên liệu để mở rộng công suất hoạt động và rơi vào tình thế bị động.

Nếu năm nay tư thương bên ngoài không tới mua củ dong, chắc chắn khi đó người dân chỉ có thể tiêu thụ trong tỉnh, cần tới các cơ sở chế biến. Nếu người dân và doanh nghiệp không ký kết hợp đồng, rất có thể các cơ sở này sẽ đi mua nguyên liệu bên ngoài. Bởi nhiều tỉnh trình độ thâm canh cao, năng suất củ dong hơn hẳn Bắc Kạn nên dù cộng chi phí vận chuyển thì giá thành vẫn thấp hơn so với mua dong trong tỉnh. Trên thực tế một số cơ sở chế biến miến dong của tỉnh đã thực hiện phương án mua nguyên liệu bên ngoài để chủ động sản xuất.

Người nông dân làm ra nguyên liệu cần nơi tiêu thụ, các cơ sở chế biến thì cần nguyên liệu để sản xuất. Đó là mối quan hệ kinh tế rất rõ ràng hoàn toàn phụ thuộc vào nhau. Nếu không bắt tay hợp tác thì nền sản xuất không thể tồn tại được lâu dài. Hiện nay việc trồng và chế biến dong riềng ở tỉnh Bắc Kạn chưa được xây dựng trên mối liên kết tất yếu đó. Do vậy cần có sự vào cuộc của các cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương để hướng dẫn vận động người dân, doanh nghiệp, bàn bạc, tháo gỡ khó khăn trong thời gian tới./.

DANH MỤC TIN