13 5/2015
Nâng cao chất lượng sản phẩm Miến dong Bắc Kạn

Cách đây 3 năm (tháng 10/2012), miến dong Bắc Kạn được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể. Làm thế nào để phát triển và giữ vững uy tín sản phẩm miến dong Bắc Kạn với người tiêu dùng là nhiệm vụ đặt ra cho Hội Nông dân và các nhà sản xuất, kinh doanh miến dong.

Đóng gói sản phẩm tại cơ sở sản xuất miến dong Tài Hoan, xã Côn Minh (Na Rì). Ảnh: Văn Lạ

Được tỉnh giao nhiệm vụ, ngành Khoa học và Công nghệ đã tích cực xây dựng thành công nhãn hiệu hàng hóa tập thể cho sản phẩm miến dong Bắc Kạn. Có nhãn hiệu và logo đặc trưng được pháp luật bảo hộ, miến dong của tỉnh đã có sức cạnh tranh tốt hơn, giá trị kinh tế được nâng cao, góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo cho nhân dân. Mặc dù vậy, sau 3 năm có nhãn hiệu, sản phẩm miến dong Bắc Kạn vẫn chưa trở thành thương hiệu có sức lan tỏa rộng trên thị trường như kỳ vọng.

Có được nhãn hiệu tập thể là thành công lớn của sự phát triển sản xuất hàng hóa, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục củng cố uy tín cho sản phẩm. Bắc Kạn hiện nay có nhiều cơ sở sản xuất miến dong, mỗi cơ sở đều có quyền sử dụng và có trách nhiệm bảo vệ nhãn hiệu tập thể "Miến dong Bắc Kạn", cùng với đó là xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm của cơ sở mình.

Miến dong Côn Minh từ lâu đã được người tiêu dùng ưa chuộng. Nghề trồng dong và sản xuất miến từ tinh bột dong riềng đã có mặt tại xã Côn Minh hơn 30 năm qua. Nhìn ra tiềm năng và hiệu quả kinh tế to lớn từ nghề trồng dong và sản xuất miến dong, tỉnh Bắc Kạn đã có những động thái tích cực trong việc khuyến khích mở rộng diện tích vùng nguyên liệu, hỗ trợ các cơ sở chế biến về vốn, quỹ đất, khoa học công nghệ... Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mong muốn.

Trong cuộc làm việc với xã Côn Minh (Na Rì) mới đây, đồng chí Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhận định: Miến dong của tỉnh đã có tiếng, có tuổi, có tên nhưng vẫn chưa thực sự nổi bật. Cây dong lẫn sản phẩm miến dong vẫn “trầm nhiều hơn thăng”. Đánh giá trên ngắn gọn, nhưng phản ánh chính xác về tình hình phát triển của cây dong riềng và miến dong Bắc Kạn trong thời gian qua. Minh chứng là những bất ổn định trong các khâu trồng, thu mua, chế biến, liên kết tiêu thụ của cây dong và sản phẩm miến dong tại nhiều địa phương.

 Cây dong riềng đã được người dân nhiều địa phương như Chợ Đồn, Ba Bể, Bạch Thông… đưa vào canh tác. Nghề trồng dong, chế biến tinh bột dong riềng đã đem lại nguồn thu lớn cho người nông dân. Lúc cao điểm, diện tích trồng dong của toàn tỉnh đã đạt tới khoảng 2.900ha vào năm 2013. Tuy vậy, ngay sau thời kỳ tăng trưởng “nóng” về diện tích, giá tinh bột trên thị trường sụt giảm mạnh.

Đến nay tổng diện tích trồng dong của tỉnh chỉ còn hơn 700ha. Trong số hơn 110 cơ sở chế biến tinh bột và sản xuất miến dong, đã có hàng chục cơ sở ngừng hoạt động. Riêng tại xã Côn Minh, nơi được coi là cái nôi của nghề trồng dong và sản xuất miến dong, đến nay có 8/23 cơ sở chế biến tinh bột và 6/24 cơ sở chế biến miến dong ngừng hoạt động. Năm nay, giá thu mua củ dong đầu vụ đạt khá cao (từ 1.800 - 2.000 đồng/kg), một số cơ sở chế biến nguy cơ rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu cho sản xuất.

Đã có nhãn hiệu tập thể, vậy điều gì làm cho nghề trồng dong và sản xuất miến dong trong hai năm trở lại đây trở nên trầm lắng như vậy? Đáng chú ý, trong số 15 cơ sở chuyên sản xuất miến dong và 21 cơ sở vừa chế biến tinh bột, vừa sản xuất miến dong của tỉnh, chỉ có 1/3 số cơ sở đăng ký sử dụng nhãn hiệu tập thể miến dong Bắc Kạn. Anh Nông Văn Chính- chủ cơ sở sản xuất miến dong Chính Tuyển ở thôn Lủng Vạng, xã Côn Minh cho hay: Tham gia sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tập thể, miến dong của các cơ sở sẽ dễ được người tiêu dùng nhận diện, có giá hơn, tiêu thụ tốt hơn. Nhưng không để đăng ký sử dụng nhãn hiệu tập thể, các cơ sở sản xuất phải đầu tư một khoản đáng kể cho bao bì đạt chuẩn, cần có vùng nguyên liệu ổn định cho sản xuất, hạch toán sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao...

Qua tìm hiểu có thể thấy, giữa việc trồng dong nguyên liệu và phát triển cơ sở chế biến tinh bột của tỉnh chưa theo quy hoạch đồng bộ. Mối liên kết giữa người nông dân - cơ sở thu mua chế biến - doanh nghiệp còn rất lỏng lẻo, theo kiểu “ai làm việc người nấy”. Thậm chí nhiều nơi, người nông dân cứ trồng dong, mà không biết khi thu hoạch mình sẽ bán cho ai, có bán được không. Đa số các cơ sở chế biến không ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với nông dân. Họ chỉ chờ đến vụ là tiến hành thu mua. Như vậy cả hai bên đều thiệt hại, trong đó thiệt nhất vẫn là người trồng dong. Khi các khâu trồng và chế biến thiếu tính ổn định như vậy, việc phát huy và nâng tầm nhãn hiệu hàng hóa tập thể cho miến dong Bắc Kạn đương nhiên gặp khó khăn.

Để khắc phục những hạn chế nói trên, theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giải pháp đặt ra là phải xem xét lại việc tổ chức sản xuất, phân vùng nguyên liệu cho các hợp tác xã và cơ sở chế biến. Tỉnh nên tiếp tục các chính sách hỗ trợ đối với các cơ sở chế biến tinh bột và sản xuất miến dong. Mặt khác, bản thân người nông dân cũng cần chú ý hơn đến kỹ thuật và thời vụ canh tác.

Chỉ đạo về vấn đề này, đồng chí Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cho rằng: Tỉnh không khuyến khích người dân trồng dong bằng mọi giá. Người dân chỉ nên trồng khi đã chắc chắn về khâu tiêu thụ. Do đó, các hợp tác xã và cơ sở chế biến cần liên kết với nhau và gắn kết chặt chẽ với người nông dân. Muốn có nguồn nguyên liệu ổn định, cơ sở chế biến phải cam kết với các hộ hoặc nhóm hộ trồng dong về giá sàn thu mua dong củ. Đồng thời, Hội Nông dân tỉnh (đơn vị được giao trách nhiệm quản lý, phát triển nhãn hiệu tập thể Miến dong Bắc Kạn) và Sở Công thương cần tiếp tục làm tốt công tác quảng bá, xúc tiến thương mại. Không để người dân phải tự mình loay hoay trong việc tìm kiếm thị trường. Con đường đi từ nhãn hiệu đến thương hiệu không chỉ gói gọn trong một logo bắt mắt và các phương thức tiếp thị rộng rãi, mà phải được gây dựng từ quá trình liên kết sản xuất chặt chẽ, khoa học và mang tính ổn định..../.

Đăng Bách - Văn Lạ

DANH MỤC TIN